Every day, billions of stocks change hands across global exchanges like the New York Stock Exchange. A stock represents fractional ownership in a business, meaning an investor shares in the company’s financial triumphs and failures as reflected in corporate profits. Stock prices are dictated by the fundamental balance of supply and demand among market participants. As a result, the market valuation of a share embodies collective beliefs about what the business is worth, often fluctuating drastically based on future growth expectations rather than current profitability.
Mỗi ngày, hàng tỷ cổ phiếu được trao tay trên các sàn giao dịch khắp thế giới như Sàn Giao dịch Chứng khoán New York. Cổ phiếu đại diện cho quyền sở hữu một phần của một doanh nghiệp, đồng nghĩa với việc nhà đầu tư chia sẻ cả thành công lẫn thất bại của công ty thông qua lợi nhuận kinh doanh. Giá cổ phiếu được quyết định bởi quy luật cung cầu giữa những người tham gia thị trường. Do đó, định giá thị trường của một cổ phần phản ánh niềm tin chung về giá trị của doanh nghiệp, thường xuyên biến động mạnh mẽ dựa trên kỳ vọng tăng trưởng tương lai thay vì chỉ dựa vào lợi nhuận hiện tại.
Every day, billions of stocks are traded on the New York Stock Exchange alone.
Mỗi ngày, hàng tỷ cổ phiếu được giao dịch chỉ riêng trên Sàn Giao dịch Chứng khoán New York.
But with over 43,000 companies listed on stock exchanges around the world, how do investors decide which stocks to buy?
Nhưng với hơn 43.000 công ty được niêm yết trên các sàn chứng khoán khắp thế giới, các nhà đầu tư quyết định mua cổ phiếu nào bằng cách nào?
To answer this question, it’s important to first understand what stocks are, and what individuals and institutions hope to achieve by investing in them.
Để trả lời câu hỏi này, điều quan trọng trước tiên là phải hiểu cổ phiếu là gì, và các cá nhân cùng tổ chức kỳ vọng đạt được điều gì khi đầu tư vào chúng.
Stocks are partial shares of ownership in a company.
Cổ phiếu là các phần sở hữu một phần trong một công ty.
So by buying a stock, investors buy a share in the company’s success—or failure—as measured by the company’s profits.
Vì vậy bằng việc mua cổ phiếu, nhà đầu tư mua một phần vào sự thành công—hoặc thất bại—của công ty, được đo lường bằng lợi nhuận của công ty đó.
A stock’s price is determined by the number of buyers and sellers trading it; if there are more buyers than sellers, the price will increase, and vice versa.
Giá của một cổ phiếu được xác định bởi số lượng người mua và người bán giao dịch cổ phiếu đó; nếu người mua nhiều hơn người bán, giá sẽ tăng lên và ngược lại.
The market price of a share therefore represents what buyers and sellers believe the stock, and by association the company, is worth.
Do đó, giá thị trường của một cổ phần đại diện cho mức giá mà người mua và người bán tin rằng cổ phiếu đó, và liên đới là công ty đó, có giá trị tương xứng.
So the price can change dramatically based on whether investors think the company has a high potential for increasing profitability—even if it isn’t profitable yet.
Vì vậy mức giá có thể thay đổi đáng kể dựa trên việc liệu các nhà đầu tư có nghĩ rằng công ty có tiềm năng lớn để tăng khả năng sinh lời hay không—ngay cả khi công ty đó vẫn chưa có lãi.